Vương Quốc Anh

Thứ tư, 02/07/2014, 11:32 GMT+7
Lượt xem : 5042
Vương Quốc Anh

Vương Quốc Anh

Anh (tiếng Anh: England) là quốc gia rộng lớn và đông dân nhất trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, nằm về phía tây bắc của châu Âu. Dân số của Anh chiếm hơn 83% tổng số dân của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và chiếm phần lớn diện tích của đảo Anh. Anh tiếp giáp với Scotland về phía bắc và Wales ở phía tây. Ngoài ra, Anh còn giáp với biển Bắc, biển Ireland, Đại Tây Dương và eo biển Măng-sơ.

Anh được thống nhất vào thế kỷ 10 và tên của nước này, Luân Đôn (Luân Đôn), là thành phố lớn nhất của vương quốc, đồng thời được phần lớn các nghiên cứu xác nhận là thành phố lớn nhất trong Liên minh châu Âu. Nước Anh là nơi khai sinh cuộc Cách mạng Công nghiệp vào thế kỉ 18 đã làm thay đổi lịch sử thế giới, đưa nước Anh trở thành một trung tâm kinh tế hàng đầu thế giới và sau đó là Đế chế Anh hùng mạnh có hệ thống thuộc địa khắp thế giới với biệt danh: "đất nước Mặt Trời không bao giờ lặn". Nước Anh cũng là một trong những trung tâm văn hóa có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Đây là nơi khởi nguồn của tiếng Anh, thứ ngôn ngữ phổ biến toàn thế giới và Giáo hội Anh. Luật pháp của Anh cũng là nền tảng cho nhiều hệ thống pháp luật khác tại nhiều nước trên thế giới.

Anh tồn tại như một vương quốc độc lập riêng lẻ cho đến ngày 1 tháng 5 năm 1707, khi Đạo luật Thống nhất được ban hành, hợp nhất nước này với Vương quốc Scotland để thành lập Vương quốc Anh (Great Britain). Ngày nay, Anh là một quốc gia nằm trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland cùng với Scotland, Wales và Bắc Ireland. Danh xưng "Anh" trong tiếng Việt là giản xưng của Anh Cát Lợi (Trung văn: 英吉利) và Anh Cách Lan (Trung văn phồn thể: 英格蘭; giản thể: 英格兰), dịch danh Trung văn của quốc hiệu nước Anh. Tên gọi "England" xuất xứ từ từ Englaland trong tiếng Anh cổ, có nghĩa "vùng đất của người Angles". Người Angles là một trong những bộ tộc man rợ German định cư tại Anh trong Thời đầu Trung Cổ. Người Angles tới từ bán đảo Angeln tại khu vực Vịnh Kiel thuộc Biển Baltic.[1] Theo Từ điển Oxford Anh, lần đầu tiên từ "England" được dùng để chỉ vùng phía nam hòn đảo Great Britain là năm 897, và cách đánh vần hiện đại của nó bắt đầu từ năm 1538.[2] Sự đề cập sớm nhất tới cái tên được chứng nhận diễn ra ở thế kỷ thứ nhất trong tác phẩm của Tacitus, Germania, trong đó từ tiếng Latin Anglii đã được sử dụng.[3] Từ nguyên của chính cái tên bộ tộc bị các nhà học giả tranh cãi; đã có đề xuất rằng nó xuất phát từ hình dạng của bán đảo Angeln, một hình có góc.[4] Làm thế nào và tại sao thuật ngữ xuất xứ từ cái tên của một bộ tộc không nổi bật so với các bộ tộc khác, như người Sachsen, lại được sử dụng để chỉ toàn bộ quốc gia và người dân của nó vẫn chưa được biết, nhưng dường như nó liên quan tới phong tục gọi người German tại Anh là Angli Saxones hay Anh - Sachsen.[5] Một cái tên khác của Anh Quốc là Albion. Cái tên Albion ban đầu để chỉ toàn bộ hòn đảo Great Britain. Ghi chép đầu tiên về cái tên xuất hiện trong tác phẩm Corpus Aristotelicum của nhà triết học Aristotle của Hy Lạp cổ đại, một cách rõ ràng ở thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên De Mundo:[6] "Phía ngoài Các cột của Hercules là đại dương chảy quanh Trái Đất. Trong đó có hai hòn đảo rất lớn được gọi là Britannia; chúng là Albion và Ierne".[6] Từ Albion (Ἀλβίων) hay insula Albionum có hai khả năng nguồn gốc. Hoặc nó xuất phát từ từ tiếng Latin albus có nghĩa trắng, một sự đề cập tới các vách trắng Dover, là quang cảnh đầu tiên của Anh nhìn từ Lục địa châu Âu.[7] Một nguồn gốc khá được cho là bởi cuốn sách cổ của thương gia Massaliote Periplus, đề cập tới một "hòn đảo của người Albiones".

[8] Albion hiện được dùng thay cho Anh (England) theo một nghĩa thi vị hơn.[9] Một cái tên lãng mạn khác của Anh Quốc là Loegria, liên quan tới Lloegr tiếng Wales, xuất xứ từ truyền thuyết trứ danh về vua Arthur. Xương người nguyên thuỷ cổ nhất được phát hiện trong vùng có niên đại từ 700,000 năm trước, Sự khám phá, các di cốt của Homo erectus, đã được thực hiện ở nơi ngày nay là Norfolk và Suffolk.[10] Con người hiện đại lần đầu tiên tới vùng này khoảng 35,000 năm trước;[11] nhưng bởi điều kiện khắt khe của Thời kỳ băng hà cuối cùng, còn được gọi riêng trong khu vực này là băng hà Devensian,[12] họ đã rời khỏi Anh tới những vùng núi phía nam châu Âu. Chỉ những loài thú có vú lớn như voi mammoth, bò rừng bison và tê giác lông len còn ở lại.[11] Khoảng 11,000 năm trước, khi các phiến băng bắt đầu rút lui, con người quay trở lại sinh sống trong vùng; nghiên cứu gene cho thấy họ tới từ vùng phía bắc của bán đảo Iberia.[13] Mực nước biển thấp hơn hiện tại, và Anh được nối với cả Ireland và đại lục Á Âu bằng một cây cầu đất. Khi nước biển dâng lên, nó bị chia tách khỏi Ireland 10000 năm trước và khỏi Á Âu hai thiên niên kỷ sau đó.[14] Văn hoá Beaker xuất hiện khoảng năm 2500 trước Công Nguyên, và việc chế tạo bình đựng thực phẩm bằng đất sét và đồng đã diễn ra.[15] Cũng trong thời gian này các công trình lớn thời Đồ đá mới như Stonehenge và Avebury được thực hiện. Bằng cách nấu chảy thiếc và đồng, cả hai chất đều có rất nhiều trong vùng, người dân thuộc văn hoá Beaker đã có khả năng chế tạo đồng, và sau này là sắt từ các quặng sắt. Họ có khả năng quay và dệt lông cừu, và từ đó làm ra quần áo.[15] Theo John T. Koch và những người khác, Anh ở cuối thời đồ đồng là một phần của một nền văn hoá mạng lưới thương mại biển được gọi là Thời kỳ đồ đồng Atlantic gồm toàn bộ Anh và cả Ireland, Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nơi các ngôn ngữ Celt đã phát triển cùng với ngôn ngữ Tartessian ngôn ngữ Celt viết đầu tiên vẫn chưa được phát triển.[16][17][18][19][20][21] Painting of woman, with outstretched arm, in white dress with red cloak and helmet, with other human figures to her right and below her to the left. Boudica lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa chống lại Đế quốc La Mã. Trong thời đồ sắt, văn hoá Celt, xuất xứ từ văn hoá Hallstatt và La Tène, xuất hiện từ miền Trung Âu.

Sự phát triển của kỹ thuật nấu chảy sắt cho phép chế tạo những chiếc cày tốt hơn, thúc đẩy nông nghiệp phát triển (ví dụ, với các cánh đồng Celt), cũng như việc chế tạo nhiều vũ khí hiệu quả hơn.[15] Brythonic là ngôn ngữ nói trong thời kỳ này. Xã hội là bộ tộc; theo tác phẩm Geographia của nhà địa lý học Ptolemy có khoảng 20 bộ tộc khác nhau trong vùng, tuy nhiên, nhưng sự phân chia ban đầu không được rõ bởi người Briton không có chữ viết. Như các vùng khác ở rìa Đế quốc, Anh từ lâu đã có các con đường thương mại với người La Mã. Nhà độc tài La Mã là Julius Caesar đã tấn công Anh hai lần vào năm 55 trước Công nguyên; dù thất bại, ông đã lập được một vị vua chư hầu ở vùng Trinovantes. Dưới thời Hoàng đế Claudius, người La Mã chinh phục được Anh vào năm 43 Công Nguyên, và vùng đất này bị sáp nhập vào Đế chế La Mã như tỉnh Britannia.[22] Man tộc nổi tiếng nhất tìm cách chống trả là Catuvellauni dưới sự lãnh đạo của Caratacus. Sau này, một cuộc khởi nghĩa bùng nổ dưới sự lãnh đạo của Boudica, Nữ hoàng của người Iceni; quân La Mã tiến hành đàn áp và bà hy sinh trong trận Watling Street.[23] Vùng này đã có một thời kỳ đỉnh cao của nền văn hoá Hy Lạp-La Mã với sự xuất hiện của pháp luật và trật tự, kiến trúc La Mã, vệ sinh cá nhân, các hệ thống cống rãnh, giáo dục, nhiều vật phẩm nông nghiệp, và tơ lụa.[23] Ở thế kỷ thứ 3, Hoàng đế Septimius Severus qua đời tại York - nơi Hoàng đế Constantinus I sau này đăng cơ.[24] Thiên chúa giáo xuất hiện lần đầu tiên trong khoảng thời gian này, dù có những truyền thống liên kết với Glastonbury tuyên bố một sự xuất hiện thông qua Joseph của Arimathea, trong khi những người khác cho rằng thông qua Lucius của Anh.[25] Tới năm 410, khi Đế quốc của họ suy tàn, người La Mã rời khỏi hòn đảo Anh, để bảo vệ các biên giới của họ ở lục địa châu Âu.[23] Thời Trung Cổ[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Nước Anh thời Trung Cổ Studded and decorated metallic mask of human face. Một chiếc mũ nghi lễ thế kỷ thứ 7 từ Vương quốc Đông Anglia, được tìm thấy tại Sutton Hoo Sau khi người La Mã rút đi, Anh được để ngỏ cho cuộc xâm lược của những người ngoại giáo, các chiến binh thuỷ thủ như người Sachsen và người Iutum họ giành được quyền kiểm soát tại các khu vực quanh vùng đông nam.[26] Sự tiến bước của họ đã bị chặn lại trong một thời gian sau chiến thắng của người Anh trong trận quyết chiến tại núi Badon. Các vương quốc chư hầu La Mã của người Brython ở phương Bắc, sau này được gọi chung trong thi ca Anh là Hen Ogledd, cũng dần bị người Angles chinh phục ở thế kỷ thứ 6. Những lời tường thuật đáng tin cậy còn lại từ thời ấy cũng như bằng chứng khảo cổ rất hiếm, khiến thời gian này đã được miêu tả như một Thời kỳ Tăm tối. Có nhiều lý thuyết xung đột nhau về mức độ và quá trình Người Angles-Sachsen định cư tại Anh; Cerdic, người sáng lập triều đại nhà Wessex, có thể là một người Anh (Briton).[27] Quả thực, tới thế kỷ thứ 7 một loạt các vương quốc Angles-Sachsen chặt chẽ được gọi là Heptarchy đã xuất hiện ở phía nam và miền trung Anh:

Northumbria, Mercia, Đông Anglia, Essex, Kent, Sussex, và Wessex.[28] Thiên chúa giáo du nhập vào phía Nam bởi nhà truyền giáo La Mã là Augustine và vào phía Bắc bởi Aidan từ Ireland. Sự tái xuất hiện này của Thiên chúa giáo, đã mất sau sự thành lập của Heptarchy.[29] Danh hiệu Bretwalda, có nghĩa "Lãnh chúa của người Anh", biểu thị vương quyền ảnh hưởng nhất.[30] Northumbria và Mercia là các lực lượng có ảnh hưởng nhất từ thời kỳ đầu trở về sau, sau những cuộc chinh phục của người Viking ở phía bắc và phía đông, và sự áp đặt Luật lệ Đan Mạch, vương quốc Anh đầu tiên trở thành Wessex dưới thời Alfred Đại Đế. Cháu ông là Athelstan thống nhất Anh năm 927, dù nước này chỉ được cùng cố sau khi Edred đánh tan tác người Viking do Eric Bloodaxe chỉ huy. Vua Cnut Đại Đế sáp nhập Anh vào một đế chế bao gồm cả Đan Mạch và Na Uy trong một thời gian ngắn.[31] Tuy nhiên nhà Wessex đã được tái lập dưới thời Edward Người xưng tội. Painting of figures, on foot and horseback with swords and bows. In the background are water and buildings. Trận Agincourt diễn ra vào Ngày Thánh Crispin và kết thúc với đại thắng của quân Anh trước quân Pháp đông đảo hơn trong Chiến tranh Một trăm Năm. Nước Anh bị chinh phục năm 1066 bởi một đạo quân tinh nhuệ Normandy - một thái ấp của Vương quốc Pháp - dưới sự chỉ huy của Quận công William Người chinh phục.[32] Chính người người Normandy có nguồn gốc từ Scandinavia và đã định cư ở Normandy vài thế kỷ trước.[32] Họ mang tới một hệ thống phong kiến và duy trì quyền lực thông qua các nam tước, những người lập ra các lâu đài trên khắp nước Anh.[32] Ngôn ngữ nói của tầng lớp tinh hoa cầm quyền mới là tiếng Pháp Normandy, sẽ có ảnh hưởng lớn tới tiếng Anh. Nhà Plantagenet khởi nghiệp ở xứ Anjou, được thừa kế ngai vàng Anh dưới thời vua Henry II, thêm vào Anh Quốc Đế quốc Angevin bắt đầu phát triển là các thái ấp của gia đình đã được thừa kế tại Pháp gồm cả Aquitaine.[33] Họ cai trị trong ba thế kỷ, với những ông vua lỗi lạc như Richard I, Edward I, Edward III và Henry V.[33] Giai đoạn này chứng kiến những thay đổi trong thương mại và thể chế, gồm cả việc ký kết "Đại Hiến chương" (Magna Carta), một hiến chương pháp lý Anh Quốc được dùng để hạn chế các quyền lực của nhà vua theo luật pháp và bảo vệ các quyền ưu tiên của người tự do.[32] Chế độ tu viện Cơ đốc giáo phát triển, đào tạo ra các nhà triết học và các trường đại học Oxford và Cambridge đã được thành lập với sự bảo trợ của Hoàng gia. Xứ sở Hoàng thân Wales trở thành một thái ấp Plantagenet trong thế kỷ 13[34] và Vùng đất quý tộc Ireland được Giáo hoàng trao tặng cho vương quốc Anh. Ở thế kỷ 14, Plantagenets và Nhà Valois đều tuyên bố là những người thừa kế hợp pháp của Nhà Capet và với nó là cả Pháp — hai cường quốc xung đột trong cuộc Chiến tranh Trăm Năm.[35] Vào năm 1346, quân Anh dưới quyền vua Edward III đại phá quân Pháp tại trận Crecy, thanh thế lừng lẫy. Năm sau (1347), con ông là Hoàng tử đen Edward lại đè bẹp quân Pháp trong trận Poitiers vẻ vang. Chưa hết, vào năm 1415, vua Henry V lại đại phá quân Pháp trong trận Agincourt. Cho đến năm 1453, tình hình nghiêng về bất lợi cho Anh Quốc, cuối cùng chiến tranh kết thúc với thất bại của người Anh. Quân Pháp tái chiếm mọi đất đai mà quân Anh đã chiếm đóng, ngoại trừ thành phố Calais.[36][37] Dịch bệnh Tử thần Đen lan tới Anh, bắt đầu năm 1348, cuối cùng nó đã giết hại một nửa dân số Anh.[38][39] Từ năm 1453 tới năm 1487 cuộc nội chiến giữa hai nhánh của Hoàng gia diễn ra — nhà York và nhà Lancaster — được gọi là Chiến tranh Hoa Hồng.[40] Vào năm 1475, vua Edward IV của Anh khởi binh đánh Pháp, buộc Triều đình Pháp phải cống nạp cho Anh Quốc để kết thúc cuộc binh lửa này.[41] Cuối cùng, cuộc Chiến tranh Hoa Hồng dẫn tới việc triều York mất toàn bộ ngôi báu vào tay một gia đình quý tộc Wales là nhà Tudor, một nhánh của triều Lancaster đứng đầu là Henry Tudor, dưới sự hỗ trợ của quân tay sai Wales và Breton, đã xuất binh và giành thắng lợi trong trận cánh đồng Bosworth, vua nhà York là Richard III bại vong.[42] Buổi đầu Cận đại[sửa | sửa mã nguồn] Painting of large bearded man with fur trimmed cloak, wearing a hat. Vua Henry VIII trở thành Lãnh đạo Tối cao của Nhà thờ Anh. Triều đại Tudor chứng kiến nhiều sự kiện.[43] Phục hưng lan tới Anh Quốc qua các triều thần người Ý, chính họ đã làm xuất hiện trở lại nghệ thuật, giáo dục và sự tranh luận học thuật từ thời cổ đại.[43] Trong thời gian này Anh Quốc bắt đầu phát triển các kỹ năng đi biển, gồm cả việc phát minh ra máy kinh vĩ và khám phá phía Tây.[43] Chất xúc tác của những cuộc thám hiểm đó là việc Đế quốc Ottoman người Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát biển Địa Trung Hải, ngăn cản thương mại với phương Đông của các quốc gia Thiên chúa giáo châu Âu.[43] Vua Henry VIII của Anh đã phá vỡ quan hệ tôn giáo với Giáo hội Công giáo, về những vấn đề liên quan tới ly hôn, theo Đạo luật Tối cao năm 1534 tuyên bố Quốc vương lãnh đạo Nhà thờ Anh. Trái với hầu hết các phong trào Tin Lành châu Âu, những nguồn gốc của sự phân chia mang nhiều ý nghĩa chính trị hơn thần học.[Ghi chú 1] Ông cũng chính thức sáp nhập vùng Wales của tổ tiên vào trong Vương quốc Anh với các đạo luật năm 1535–1542. Đã có những cuộc xung đột tôn giáo nội bộ trong thời gian cầm quyền của các con gái của Henry VIII là Mary I và Elizabeth I. Nữ hoàng Mary I tìm cách đưa quốc gia quay trở lại với Cơ đốc giáo, trong khi Elizabeth I chia tách mạnh mẽ hơn với nó bằng cách bắt buộc tôn trọng vị thế tối cao của giáo phái Anh.[43] Hải quân Anh dưới quyền chỉ huy của Francis Drake đã đánh tan một hạm đội Tây Ban Nha trong thời kỳ Elizabeth. Trong cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha, thuộc địa đầu tiên của Anh tại châu Mỹ đã được nhà thám hiểm Walter Raleigh lập ra năm 1585 và đặt tên là Virginia.[43] Với Công ty Đông Ấn, nước Anh cũng cạnh tranh với Hà Lan và Pháp ở phương Đông.[43] Bản chất của hòn đảo đã thay đổi, khi nhà Stuart trị vì Scotland, từ một vương quốc vốn từ lâu là thù địch, được thừa kế ngôi báu Anh - tạo ra một liên minh cá nhân dưới thời vua James I năm 1603.[45][46] Ông tự xưng là Vua Anh, dù không có cơ sở trong luật pháp Anh.[47] Painting of seated male figure, with long black hair wearing a white cape and britches. Khôi phục Anh đã tái lập chế độ quân chủ dưới thời Vua Charles II và hoà bình sau cuộc Nội chiến Anh. Dựa trên sự xung đột chính trị, tôn giáo và vị thế xã hội, đã có một cuộc Nội chiến Anh giữa những người ủng hộ Nghị viện và những người theo vua Charles I, được gọi là những Người tóc ngắn và các Kỵ sĩ. Đây là một phần trộn lẫn của Những cuộc chiến tranh Ba Vương quốc rộng lớn và đa dạng hơn, với sự tham gia của Scotland và Ireland. Những người theo phe Nghị viện giành chiến thắng, vua Charles I bị hành quyết và vương quốc bị thay thế bằng Khối thịnh vượng chung. Lãnh đạo các lực lượng nghị viện là Oliver Cromwell tuyên bố mình là Người bảo hộ năm 1653, một giai đoạn cai trị cá nhân tiếp nối sau đó.[48]

Tới khi Oliver Cromwell qua đời, nước Anh đã chán ngán với sự cai trị của Thanh giáo, nhiều người muốn dàn xếp những mối bất hoà cũ và vua Charles II được mời quay trở lại triều đình năm 1660 với cuộc Khôi phục.[49] Khi ấy Hiến pháp được đưa ra với quy định rằng Nhà vua và Nghị viện sẽ cùng cai trị, dù trên thực tế mãi tới thế kỷ sau quy định này mới được thực sự áp dụng trong thực tế.[49] Với việc thành lập Hội Hoàng gia, khoa học và nghệ thuật được khuyến khích phát triển.[49] Cuộc Đại hoả hoạn Luân Đôn năm 1666 đã tàn phá kinh thành nhưng nó nhanh chóng được xây dựng lại.[50] Trong Nghị viện hai phe nhóm xuất hiện — Những người theo phe Bảo thủ và Những người theo Đảng Whig. Đảng Bảo thủ bảo hoàng trong khi Đảng Whig có khuynh hướng tự do. Dù ban đầu những người theo Đảng Bảo thủ ủng hộ ông vua sùng Cơ đốc giáo là James II, một số trong số họ, cùng với những người theo Đảng Whig đã hạ bệ ông ta trong cuộc Cách mạng năm 1688 và mời Vương công xứ Orange là William III lên ngôi. Một số người Anh, đặc biệt là những người ở phía bắc theo phái Jacobin và tiếp tục ủng hộ James II và các con trai của ông. Ông vua hùng cường Louis XIV của Pháp hỗ trợ James II, khơi mào cuộc chiến giữa William III và Louis XIV. Trong trận sông Boyne ở xứ Ireland, quân của William III giành thắng lợi.[51] Sau khi những đại biểu nghị viện Anh và Scotland đều đồng thuận,[52] hai nước tham gia vào trong liên minh chính trị, để lập ra Vương quốc Anh năm 1707.[45] Để tạo điều kiện thuận lợi cho liên minh, các định chế như pháp luật và nhờ thờ quốc gia của mỗi bên đều tiếp tục hoạt động riêng biệt.[53] Từ năm 1702, dưới thời Nữ hoàng Anne, nước Anh lại lâm chiến với Louis XIV trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha tàn khốc.[54] Dưới sự chỉ huy xuất sắc của John Churchill, Quận công Marlborough thứ nhất, quân Anh liên tiếp đánh thắng quân Pháp, điển hình là trong các trận Höchstädt lần thứ hai (1704), Ramillies (1706), Oudenarde (1708) và Malplaquet (1709). Vào năm 1713, Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha kết thúc, nước Anh giành được nhiều thuộc địa từ tay Pháp. Nhờ đó, Đế quốc Anh vươn lên thành một cường quốc hải quân trong khi Louis XIV phải hứng chịu nỗi nhục thất bại.[55] Tiếp theo đó, họ lại đánh Pháp trong cuộc Chiến tranh Kế vị Áo (1740 - 1748). Năm 1743, vua George II trực tiếp chỉ huy quân Anh đập nát quân Pháp trong trận Dettingen (1748). Nền hành chính quân sự Anh Quốc cũng được cải tiến khi cuộc chiến tranh ác liệt kết thúc. Nhưng đến năm 1756, cuộc Chiến tranh Bảy Năm bùng nổ. Khi vua Friedrich II của Phổ (tức Friedrich Đại Đế) xua quân tấn công Vương triều nhà Habsburg là đồng minh của Pháp, Thủ tướng Anh William Pitt Già cho rằng người Phổ sẽ giúp Anh Quốc thắng trận. Tại Ấn Độ, Robert Clive, Tử tước Clive thứ nhất đánh tan quân của Công ty Đông Ấn Pháp trong trận Plassey vào năm 1757. Cùng năm đó, quân Phổ liên tiếp đại phá quân Pháp và quân Áo trong trận Roßbach và trận Leuthen. Vào năm 1759, Hải quân Hoàng gia Anh dưới quyền Đô đốc tài năng Edward Hawke, Tử tước Hawke thứ nhất đè bẹp Hải quân Pháp trong trận hải chiến Vịnh Quiberon, thanh thế lẫy lừng. Cùng năm, danh tướng James Wolfe cũng hất cẳng quân Pháp ra khỏi Quebec. Trong khi đó, tại châu Âu lục địa, quân Anh do Thống chế Phổ là Quận công Ferdinand xứ Brunswick chỉ huy cũng đánh tan tác quân Pháp ở trận Minden. Khi vua George II qua đời vào năm 1760, nước Anh đã làm chủ các thuộc địa của Pháp tại Bắc Mỹ, Ấn Độ và biển cả. Với Hiệp định Paris (1763), Anh là một trong những nước thắng trận.[56][57] Cuối thời Cận đại và Hiện đại[sửa | sửa mã nguồn] A stone factory stands against a vivid blue sky, its reflection mirrored in the waters below. Saltaire, Tây Yorkshire, là một thị trấn nhà máy tiêu biểu từ thời Cách mạng Công nghiệp, và là một Địa điểm Di sản Thế giới.

Dưới thời Vương quốc Anh mới được thành lập, những phát minh từ Hội Hoàng gia và các cải tiến của Anh cộng với thời kỳ Khai sáng Scotland đã mang lại những cải tiến trong khoa học và công nghệ. Điều này đã mở đường cho sự thành lập Đế quốc Anh, trở nên rộng lớn nhất trong lịch sử.[49] Ở trong nước nó dẫn tới cuộc Cách mạng Công nghiệp, một giai đoạn chuyển đổi sâu sắc trong các điều kiện kinh tế xã hội và văn hoá của Anh, dẫn tới nền nông nghiệp, chế biến, công nghệ và khai mỏ công nghiệp hoá, cũng như việc xây dựng các mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường thuỷ lớn tạo điều kiện cho sự phát triển và mở rộng của vương quốc.[49] Việc khai trương kênh đào Bridgewater ở tây bắc Anh năm 1761 đã dẫn tới thời đại kênh đào ở Anh.[58][59] Năm 1825 tuyến đường sắt chở khách chạy bằng đầu tàu hơi nước thường trực đầu tiên —tuyến Đường sắt Stockton và Darlington — được mở cửa cho công chúng.[58] Trong thời Cách mạng Công nghiệp, nhiều công nhân đã di chuyển từ các vùng quê ở Anh tới các khu vực công nghiệp và đô thị mới được mở rộng để làm việc trong các nhà máy, ví dụ tại Manchester và Birmingham, được gọi là "Thành phố Nhà kho" và "Công xưởng của Thế giới".[60][61] Vương quốc Anh duy trì được sự ổn định khá tốt trong suốt thời kỳ Cách mạng Pháp; William Pitt Trẻ là Thủ tướng trong thời trị vì của George III. Vào năm 1798, quân Pháp dưới quyền Napoléon Bonaparte xâm lược Ai Cập, Chính phủ Anh Quốc phái hạm đội đến cứu Ai Cập. Tử tước Nelson thứ nhất - Horatio Nelson đã đánh tan nát Hải quân Pháp trong trận hải chiến vịnh Aboukir. Sau đại bại, Napoléon phải về nước. Không những thế, vào năm 1801, quân Anh do Ngài Ralph Abercromby chỉ huy cũng đánh tan tác quân Pháp trong trận Alexandria. Không những thế, tại Copenhagen, Hải quân củaa Nelson cũng đập tan Hải quân Đan Mạch là đồng minh của Pháp.[62] Trong thời Các cuộc chiến tranh của Napoléon, Napoleon đã có kế hoạch xâm lược vùng Đông Nam. Tuy nhiên kế hoạch đã phá sản và Hải quân của Napoleon bị Hải quân Anh dưới quyền Tử tước Nelson đập nát trong trận Trafalgar ngoài khơi, trong khi Lục quân của ông ta thì bị Công tước Wellington đánh bại.[49] Đại thắng Waterloo của Quân đội Anh vào năm 1815 đã giết tươi, niềm vinh quang của Napoléon.[56] Các cuộc chiến tranh Napoleon đã dẫn tới một khái niệm Britishness và một dân tộc Anh của một quốc gia thống nhất, cùng với người Scotland và người Wales.[63] Luân Đôn trở thành khu vực đô thị rộng lớn và đông dân nhất thế giới trong thời kỳ Victoria, và thương mại bên trong Đế chế Anh - cũng như vị thế của Lục quân và Hải quân Anh - rất thịnh vượng.[64] Những động thái chính trị trong nước từ những người cấp tiến như những người theo Phong trào Hiến chương và những người đòi quyền bầu cử cho phụ nữ đã dẫn tới cuộc cải cách luật pháp và phổ thông đầu phiếu.[49] Những thay đổi quyền lực ở Đông-trung Âu đã dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ nhất; hàng nghìn binh sĩ Anh đã thiệt mạng tại những chiến hào chiến đấu cho nước Anh như một phần của phe Hiệp Ước.[64] Những trận đánh kinh hoàng như Somme (1916) và Passchendaele (1917) đã in sâu vào ký ức dân tộc Anh; kết thúc chiến tranh Anh là một nước thắng trận (1918).[65] Hai thập kỷ sau, trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Vương quốc Anh một lần nữa chiến đấu trong phe Đồng Minh. Winston Churchill là Thủ tướng thời chiến.[66] Giữa các năm 1940 - 1941, nước Anh đóng vai trò chính yếu trong việc ngăn chặn thắng lợi của Đức Quốc xã ở châu Âu.[67] Những phát triển công nghệ thời chiến đã khiến nhiều thành phố bị phá huỷ trong những trận ném bom trong đợt oanh kích Blitz.[66] Ngoài ra, tại Bắc Phi năm 1942 quân Anh dưới quyền tướng Bernard Montgomery cũng đánh bại quân Đức dưới quyền tướng Erwin Rommel trong trận El Alamein thứ hai, làm nên một bước ngoặt cho Thế chiến thứ hai.[68] Một lần nữa, Anh là một nước thắng trận.[69] Song, cái giá của chiến thắng rất đắt[70] và sau cuộc chiến Đế chế Anh trải qua một quá trình giải thực nhanh chóng, cũng như hàng loạt những phát minh công nghệ; ô tô trở thành phương tiện vận tải chính và phát triển của Whittle về động cơ phản lực đã dẫn tới sự mở rộng việc đi lại bằng đường không.[66] Từ thế kỷ 20 đã có một sự dịch chuyển dân số quan trọng tới Anh, chủ yếu từ các phần khác của Hòn đảo Anh, nhưng cũng cả từ Khối thịnh vượng chung, đặc biệt là tiểu lục địa Ấn Độ.[71] Từ thập niên 1970 đã có một sự dịch chuyển lớn khỏi ngành chế tạo và có sự nhấn mạnh ngày càng gia tăng với công nghiệp dịch vụ.[72] Như một phần của Vương quốc Anh, vùng này đã gia nhập một sáng kiến thị trường chung được gọi là Cộng đồng Kinh tế châu Âu sẽ phát triển thành Liên minh châu Âu. Từ cuối thế kỷ 20 quản lý hành chính trong Vương quốc Anh đã di chuyển theo hướng chuyển giao quyền lãnh đạo tại Scotland, Wales và Bắc Ireland.[73] Anh và Wales tiếp tục tồn tại như một thực thể pháp lý bên trong Vương quốc Anh.[74] Chuyển giao quyền lực đã dẫn tới một sự nhấn mạnh lớn hơn với một khái niệm bản sắc và lòng yêu nước riêng biệt của Anh.[75][76] Không có sự chuyển giao quyền lực ở Anh, nhưng một nỗ lực để tạo ra một hệ thống riêng biệt trên cơ sở cấp tiểu vùng đã bị bác bỏ trong một cuộc trưng cầu dân ý.[77] Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Chính trị Anh Photograph of rectangular floodlight building, reflected in water. The building has multiple towers including one at each end. The tower on the right includes an illuminated clock face. Cung điện Westminster, nơi đóng trụ sở của Nghị viện Vương quốc Anh Như một phần của Vương quốc Anh, hệ thống chính trị căn bản ở Anh là một chế độ quân chủ lập hiến và một hệ thống nghị viện.[78] Đã không có một Chính phủ Anh từ năm 1707, khi Đạo luật Liên minh năm 1707, đưa vào thực hiện các điều khoản của Hiệp ước Liên minh, của Anh và Scotland để hình thành nên Vương quốc Anh.[52] Trước liên minh Anh được cai quản bởi vương triều của mình và Nghị viện Anh. Ngày nay Anh được quản lý trực tiếp bởi Nghị viện Vương quốc Anh, dù cùng với các quốc gia của Vương quốc Anh có các chính phủ chuyển giao quyền lực.[79] Trong House of Commons là hạ viện của Nghị viện Anh đóng trụ sở tại Cung điện Westminster, có 532 Đại biểu Nghị viện (MPs) đại diện cho các khu vực bầu cử ở Anh, trong tổng số 650 đại biểu.[80] Trong cuộc Tổng tuyển cử Vương quốc Anh năm 2010 Đảng Bảo thủ đã giành đa số tuyệt đối trong số 532 ghế tranh cử ở Anh với 61 ghế nhiều hơn tất cả các đảng khác cộng lại (một ghế nữa sẽ được tranh cử vào ngày 27 tháng 5). Tuy nhiên, khi tính cả Scotland, Bắc Ireland và xứ Wales con số này không đủ đảm bảo một đa số tuyệt đối, dẫn tới một nghị viện treo.[81] Để giành được đa số Đảng Bảo thủ, dưới sự lãnh đạo của David Cameron, đã tham gia một thoả thuận liên minh với đảng lớn thứ ba, Đảng Dân chủ Tự do, dưới sự lãnh đạo của Nick Clegg. Sau đó, Gordon Brown đã thông báo việc từ chức thủ tướng[82] và lãnh đạo Công đảng, hiện được dẫn dắt bởi quyền lãnh đạo Harriet Harman cho tới khi có một cuộc bầu cử lãnh đạo đảng mới. Lines of men wearing large black bearskin hats and red tunics. Đổi gác của Đội Vệ binh Nữ hoàng tại cung điện hoàng gia, Điện Buckingham Bởi Vương quốc Anh là một thành viên của Liên minh châu Âu, có những cuộc bầu cử được tổ chức tại Anh để quyết định ai sẽ được cử làm Các thành viên của Nghị viện châu Âu. Cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu năm 2009 có kết quả như sau: 23 đại biểu Bảo thủ, 10 đại biểu Công đảng, 9 đại biểu ĐẢng Độc lập Vương quốc Anh (UKIP), 9 đại biểu Đảng Dân chủ Tự do, 2 đại biểu Đảng Xanh và hai từ Đảng Quốc gia Anh (BNP).[83] Từ thời kỳ chuyển giao quyền lực, trong đó cùng với các quốc gia khác thuộc Vương quốc Anh —Scotland, Wales và Bắc Ireland — mỗi bên đều có một nghị viện hay quốc hội chuyển giao quyền lực quyết định các vấn đề của riêng mình, đã có cuộc tranh luận về sự đối trọng như vậy ở Anh. Ban đầu có kế hoạch rằng nhiều vùng của Anh sẽ được phân quyền, nhưng sau khi đề xuất bị bác bỏ bởi người dân Đông Bắc trong một cuộc trưng cầu dân ý, kế hoạch này đã không được thực hiện.[77] Một vấn đề lớn là vấn đề Tây Lothian, tại đó các đại biểu từ Scotland và Wales có thể bỏ phiếu về vấn đề pháp lý chỉ liên quan tới Anh, trong khi các đại biểu Anh không có quyền lực tương tự với quyền pháp lý với các vấn đề đã phân quyền.[84] Điều này khi đặt trong bối cảnh Anh sẽ là địa điểm duy nhất ở Vương quốc Anh không có sự chữa trị ung thư miễn phí, đơn thuốc, chăm sóc nhà ở cho người già và miễn phí đại học top-up,[85] đã dẫn tới sự gia tăng ngày càng lớn trong chủ nghĩa quốc gia Anh.[86] Một số người đã đề xuất việc tạo lập một nghị viện phân quyền Anh,[87] trong khi những người khác đề nghị một cách đơn giản giới hạn quyền bỏ phiếu với các vấn đề luật pháp chỉ liên quan tới Anh cho các đại biểu Anh.[88] Luật pháp[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Luật pháp Anh Ornate grey stone building with multiple turrets and arched windows. Toà án Pháp lý Hoàng gia Hệ thống pháp lý luật pháp Anh, được phát triển qua các thế kỷ, là nền tảng của nhiều hệ thống pháp luật trên khắp Anglosphere.[89] Dù hiện là một phần của Vương quốc Anh, hệ thống pháp luật của Các toà án Anh và xứ Wales tiếp tục như một hệ thống luật pháp riêng biệt với hệ thống được sử dụng tại Scotland như một phần của Hiệp ước Liên minh. Nội dung chung của luật pháp Anh là nó được được đưa ra bởi các thẩm phán tại các toàn án, thể hiện tình cảm chung và sự ghi nhận tiền lệ pháp lý—stare decisis—với các thực tế có trước chúng.[90] Hệ thống toà án được lãnh đạo bởi Toà án Tối cao Tư pháp, gồm Toà Kháng cáo, Toà Tối cao Tư pháp cho các vụ việc dân sự và Toà án Tối cao cho các vụ hình sự.[91] Toà án Tối cao Vương quốc Anh là toà cao nhất cho các vụ hình sự và dân sự tại Anh và xứ Wales, nó được thành lập năm 2009 sau những thay đổi hiến pháp, thay thế cho các chức năng tư pháp của Thượng viện.[92] Một quyết định của toà kháng cáo cao nhất tại Anh và xứ Wales, Toà án tối cao, là bắt buộc với mọi toà án khác trong vương quốc, là những cơ quan phải tuân thủ các hướng dẫn của nó.[93] Tội phạm đã gia tăng trong giai đoạn 1981–1995, dù từ đó đã có sự sụt giảm 42% trong các vụ tội phạm giai đoạn 1995–2006.[94] Con số tù nhân đã gia tăng gấp đôi trong cùng giai đoạn đó, khiến nước này có tỷ lệ tù nhân cao nhất ở Tây Âu ở mức 147 trên 100,000 dân.[95] Sở Nhà tù của Nữ hoàng trực thuộc Bộ Tư pháp, quản lý hầu hết các tù nhân, giam giữ hơn 80,000 người bị kết án.[95] Tôn giáo, hạt và quận[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Phân chia hành chính Anh Xem thêm: Các vùng của Anh, Các hạt của Anh, và Các quận của Anh Phân chia hành chính Anh gồm tới bốn mức độ phân chia dưới cấp quốc gia được điều khiển thông qua nhiều kiểu thực thể hành chính. Chúng đã được tạo ra cho các mục đích của chính quyền địa phương tại Anh. Bậc cao nhất của chính quyền địa phương là chín vùng của Anh —Đông Bắc, Tây Bắc, Yorkshire và the Humber, East Midlands, West Midlands, Đông, Đông Nam, Tây Nam, và Đại Luân Đôn. Chúng được thành lập năm 1994 như các Văn phòng Chính phủ, được Chính phủ Anh sử dụng để cung cấp một loạt các chính sách và chương trình cấp vùng.[96] Chúng được sử dụng để bầu Các thành viên của Nghị viện châu Âu trên cơ sở địa phương. Sau khi việc phân quyền bắt đầu diễn ra ở những vùng khác của Vương quốc Anh có kế hoạch để các cuộc trưng cầu dân ý cho các vùng của Anh sẽ diễn ra để quyết định quốc hội vùng sẽ xuất hiện như các đối trọng. Luân Đôn chấp nhận năm 1998 —Quốc hội Luân Đôn được thành lập hai năm sau đó. Tuy nhiên, đề xuất này bị các cuộc trưng cầu dân ý phân quyền phía bắc Anh năm 2004 bác bỏ ở Đông Bắc, những cuộc trưng cầu dân ý tiếp theo đã bị huỷ bỏ.[77] Có những kế hoạch để xoá bỏ các quốc hội vùng còn lại vào năm 2010 và chuyển giao các chức năng của chúng cho các Cơ quan Phát triển Vùng và các hệ thống Ban Lãnh đạo Chính quyền Địa phương mới tương đương.[97] Bên dưới mức vùng tất cả nước Anh được chia thành một trong 48 hạt nghi lễ.[98] Những hạt này chủ yếu được dùng như những khuôn khổ địa lý để tham khảo và đã dần phát triển từ Thời Trung cổ, và một số hạt được thành lập gần đây như vào năm 1974.[99] Mỗi hạt có một Lord Lieutenant và High Sheriff; các chức vụ này được dùng để thể hiện nền quân chủ Anh tại địa phương.[98]

Bên ngoài Đại Luân Đôn và Đảo Scilly, Anh cũng được chi athành 83 hạt đô thị và phi đô thị; chứng tương đương với các khu vực được dùng cho các mục đích chính quyền địa phương[100] và có thể gồm chỉ một quận hay được chia thành nhiều quận. Có sáu hạt đô thị dựa trên các khu vực đô thị hoá nhất và không có các hội đồng hạt.[100] Tại các khu vực này nguyên tắc chính quyền là các uỷ ban của các tiểu vùng, các thành phố đô thị. 27 hạt "shire" phi đô thị có một hội đồng hạt và được chia thành các quận, mỗi quận có một hội đồng quận. Thông thường, dù không phải là luôn luôn, chúng được thành lập tại các khu vực đô thị. Các hạt phi đô thị còn lại chỉ là một quận và thường tương đương với các thị trấn hay các hạt lớn có dân số ít; chúng được gọi là các chính quyền đơn nhất. Đại Luân Đôn có một hệ thống quản lý địa phương khác biệt, với ba hai thị trấn Luân Đôn và Thành phố Luân Đôn bao phủ một khu vực nhỏ ở giữa, được quản lý bởi Hội đồng Thành phố Luân Đôn.[101] Ở mức độ địa phương nhất, hầu hết Anh được chia thành các xứ đạo dân sự với hội đồng; chúng không tồn tại ở Đại Luân Đôn.[102] Địa lý[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Địa lý Anh Quang cảnh và các dòng sông[sửa | sửa mã nguồn] Blue lake between green hills. Wastwater tại Lake District Về mặt địa lý Anh gồm vùng trung tâm và hai phần ba hòn đảo Anh, cộng các hòn đảo ngoài khơi như Đảo Wight và Đảo Scilly. Anh giáp với hai quốc gia anh em trong Vương quốc Anh —Scotland ở phía bắc và Wales ở phía tây. Anh ở gần Lục địa châu Âu hơn bất kỳ phần nào khác của lục địa Anh. Nước này bị chia tách với Pháp bởi một eo biển rộng 34 km[103], dù hai quốc gia được kết nối với nhau bằng Đường hầm eo biển Manche gần Folkestone.[104][105] Bởi Anh nằm trên một hòn đảo, nó bị bao quanh bởi Biển Ireland, Biển Bắc và Đại Tây Dương. Các con sông quan trọng nhất của Anh, bởi chúng có các bến cảng tại Luân Đôn, Liverpool, và Newcastle, là các con sông thuỷ triều là Thames, Mersey và Tyne.[106] Thuỷ triều làm mực nước trong các phụ lưu của nó dâng lên cho phép tàu vào các bến cảng. Với chiều dài 354 km, Severn là con sông dài nhất chảy qua nước Anh. Nó đổ vào Kênh Bristol và nổi tiếng vì các đợt thuỷ triều Severn Bore của mình, có thể đạt tới độ cao 2m.[106] Tuy nhiên, con sông dài nhất nằm hoàn toàn trong nước Anh là sông Thames, với chiều dài 346 km.[107] Nước Anh có nhiều hồ nhưng đa số nằm tại quận được đặt tên một cách chính xác là Quận Hồ; hồ lớn nhất là Hồ Windermere, nổi tiếng với tên hiệu "Nữ hoàng của các hồ".[106] Green hills with trees in the foreground. Địa hình Dartmoor, Devon Về địa chất, các Pennine, được gọi là "xương sống của Anh", là rặng núi cổ nhất nước, có nguồn gốc từ cuối Kỷ Paleozoic khoảng 300 triệu năm trước.[108] Tổng chiều dài của các Pennine là 400 km, đỉnh cao nhất tại Cross Fell ở Cumbria.[106] Vật chất cấu tạo núi chủ yếu là đá cát và đá vôi, nhưng cũng bao gồm cả than đá. Có các phong cảnh đá vôi tại các khu vực calcite như các phần của Yorkshire và Derbyshire. Phong cảnh Pennine hoang dã hơn tại các vùng cao, rải rác có các thung lũng tươi tốt cạnh các con sông.[106] Ở đây có ba vườn quốc gia, Yorkshire Dales, Northumberland, và Peak District. Điểm cao nhất của Anh, ở độ cao 978m, là Scafell Pike tại Cumbria.[106] Nằm giữa biên giới Anh và Scotland là Cheviot Hills. Các vùng đất thấp của Anh nằm ở phía nam Pennines, gồm các quả đồi tươi tốt, gồm cả Cotswold Hills, Chiltern Hills, North và South Downs —nơi chúng giáp với biển và hình thành nên những vách đá trắng như vách Dover.[106] Bán đảo tây nam granitic ở West Country là nơi có những vùng đất cao hoang dã, như Dartmoor và Exmoor, với một khí hậu ôn hoà; cả hai đều là các vườn quốc gia.[106] Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Khí hậu Anh Anh có khí hậu biển ôn hoà có nghĩa các giới hạn nhiệt độ của nước này không thấp hơn 0 °C vào mùa đông và không cao hơn 32 °C vào mùa hè.[109] Khí hậu thường xuyên ẩm ướt và dễ thay đổi. Các tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2, đặc biệt là tháng 2 ở bờ biển Anh, trong khi tháng 7 thường là tháng nóng nhất. Các tháng có thời tiết ôn hoà tới ấm với lượng mưa ít là tháng 5, 6, tháng 9 và tháng 10.[109] Những ảnh hưởng lớn nhất với thời tiết Anh là từ sự gần gũi địa lý với Đại Tây Dương, vĩ độ bắc của nước Anh và các vùng nước ấm bao quanh Gulf Stream.[109] Anh nhận được lượng mưa khá lớn trong năm, với mùa thu và mùa đông là những khoảng thời gian ẩm thấp nhất - về mặt địa lý Quận Hồ có lượng mưa nhiều hơn bất kỳ nơi nào khác trong nước.[109] Từ khi việc lưu trữ dữ liệu thời tiết bắt đầu, nhiệt độ cao nhất ghi nhận được là 38.5 °C vào ngày 10 tháng 8 năm 2003 tại Brogdale ở Kent,[110] trong khi nhiệt độ thấp nhất là −26.1 °C ngày 10 tháng 1 năm 1982 tại Edgmond, Shropshire.[111]

Theo Wikipedia


Các tin đã đưa ngày :    

094 6666 348 - 08 3868 8875