Biện pháp PCCC

Tuyên truyền, giáo dục cho mọi người có ý thức về PCCC, coi đó là trách nhiệm của bản thân mình để chấp hành những quy định về phòng chống trong quá trình làm việc, vui chơi, giải trí...

1.2 Cung cấp những kiến thức cần thiết về PCCC để họ có thể hiểu và thực hiện những biện pháp phòng cháy và biết chữa cháy khi xảy ra.

1.3 Tổ chức xây dựng phương án PCCC tại các mục tiêu bảo vệ : Thực tế cho thấy việc lập các phương án PCCC tại cơ quan xí nghiệp, công trường v.v… và tổ chức thực hiện theo phương án đã đề ra đem lại nhiều kết quả thiết thực, góp phần hạn chế các vụ cháy lớn, dập tắt kịp thời được nhiều vụ cháy, bảo vệ được tính mạng và tài sản. Nội dung phương án PCCC của mục tiêu có các vấn đề sau:

+ Tóm tắt được tính chất đặc điểm có liên quan đến việc phòng cháy và chữa cháy: địa dư, diện tích của mục tiêu, đặc điểm kiến trúc xây dựng, tính chất hoạt động của hệ thống thông tin liên lạc, lực lượng và trang thiết bị PCCC.

+ Giả thiết được các tình huống xảy ra và các phương pháp cứu chữa phù hợp với các tình huống đó.

+ Sơ đồ phương án chữa cháy (nơi cháy đầu tiên, hướng lan truyền, bố trí lực lượng chữa cháy v.v…)

+ Kế hoạch thực tập theo mỗi quí, mỗi tháng.

1.4 Tổ chức các đội chữa cháy của chủ quản và lực lượng bảo vệ. Phân công vị trí đảm nhận mỗi khi có còi báo động cháy, hướng dẫn sử dụng các phương tiện, công cụ chữa cháy cho các thành viên đội chữa cháy dự phòng.

1.5 Loại trừ tạo thành môi trường cháy: Đối với các cơ sở sản xuất, các công ty, xí nghiệp mà hoạt động sản xuất để tạo nên môi trường cháy thì có giải pháp về kỹ thuật an toàn PCCC như: + Thông gió để tránh tạo thành hỗn hợp cháy.

+ Các thiết bị sinh nhiệt phải có giải pháp kỹ thuật để khống chế quá trình truyền nhiệt sang vật dễ cháy. + Cách ly khu vực có ngọn lửa trần với nơi có chất dễ cháy.

1.6 Đề phòng sự tạo thành những nguồn cháy và sự tiếp xúc của chúng với môi trường cháy xung quanh.

1.7 Đảm bảo lối thoát cho người khi có cháy xảy ra.

1.8 Tổ chức tuần tra canh gác, kịp thời phát hiện cháy để xử lý.

1.9 Chuẩn bị sẵn sàng phương tiện chữa cháy, có nguồn nước dự trữ cho chữa cháy, phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng chữa cháy chuyên nghiệp.

2. Phòng cháy và chữa cháy điện:

2.1 Cháy do điện quá tải: - Quá tải là hiện tượng tiêu thụ điện vượt quá khả năng chịu tải của dây dẫn.
- Dòng điện chạy trong dây dẫn lớn hơn trong định mức cho phép đối với từng loại dây.
a/ Nguyên nhân:
- Khi xây dựng công trình lắp hệ thống đường dây tính toán thiếu chính xác giữa sức tải của dây và công suất tiêu thụ điện của công trình. Không tính đến việc sử dụng lắp thêm thiết bị khác.
- Các công trình nhà lắp thêm dụng cụ tiêu thụ điện tuỳ tiện, thiếu tính toán nhất là các dụng cụ, thiết bị tiêu thụ điện năng lớn.
- Ngoài sự đồng bộ về dây và nơi tiêu thụ phải tính đến cả cấu dao, cầu chì, công tắc nếu không thì các thiết bị đó cũng nóng lên do không đồng bộ với dây dẫn.
- Khi động cơ làm việc quá tải, động cơ 3 pha bị mất 1 pha cũng gây nên hiện tượng quá tải.
- Phân phối điện các bộ phận trong một công trình, xí nghiệp hay nhà ở thiếu cân đối gây nên lệch pha và dây dẫn no1ng lên. đấu, nối tuỳ tiện sử dụng dây không đồng bộ, đồng cỡ, dây nhôm, đồng tiết điện to, nhỏ khác nhau gây nên sự quá tải. b/ Biện pháp đề phòng:
- Phát hiện quá tải: + Dùng các dụng cụ đo để xác định ( nên dùng ampe kế để đo là tốt nhất )
+ Dùng nhiệt kế đo vỏ động cơ xem có bị nóng lên không. - Cách đề phòng quá tải:
+ Khi thiết kế công trình tuỳ theo mức tiêu thụ điện mà chọn dây dẫn phù hợp nhằm đảm bảo cường độ thực tế.
+ Không sử dụng quá nhiều dụng cụ tiêu thụ điện đặc biệt : là các dụng cụ có công suất lớn nếu mạng điện không được tính trước khi lắp đặt cho các dụng cụ đó.
+ Một số dụng cụ điện (Suvrolteur) thường hay cháy do bị nóng kéo dài, do đó phải kiểm tra và khi thấy quá nóng phải cắt điện, đặc biệt một số cơ quan khi ra về thường để máy biến áp ngậm điện liên tục dể gây cháy.
+ Lắp đặt thiết bị bảo vệ như cầu dao, cầu chì đúng kỹ thuật.
+ Đề phòng sử dụng nhầm lẫn giữa nguồn và vật tiêu thụ, tất cả thiết bị điện kể cả ổ cắm phải ghi rõ điện thế ( 110 – 220V ). 2.2 Cháy do chập mạch: Chập mạch hay còn gọi là ngắn mạch là hiện tượng dây nóng chạm vào dây nguội, các pha chạm vào nhau. a/ Tác hại của chạm mạch: Tác hại trước hết của hiện tượng này là cháy dây động cơ, các vật xung quanh. b/ Nguyên nhân gây chập mạch: - Do quá tải, để thiết bị ngậm điện nung nóng kéo dài làm lớp cách điện bị hỏng dẫn đến chập mạch, hiện tượng này thường xảy ra cháy ở các đèn Neon, quạt điện, động cơ điện v.v…
- Do lớp cách điện bị hỏng : nguyên nhân của lớp cách điện bị hỏng do va chạm cơ học, do bị lão hoá là các bó dây đi phía ngoài nhà, dưới tác dụng của nắng mưa lớp cách điện bị lão hoá bong ra.
- Do cây đỗ đè lên dây, đứt dây.
- Do luồng qua mái tole bị gió tác động làm dây rung động cọ sát làm hỏng lớp cách điện. - Do các mối nối thiếu bọc lớp cách điện.
- Bắt dây vào động cơ không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, trong quá trình hoạt động máy rung làm dây tuột chạm vào nhau hoặc chạm vào máy. - Do tác động của hơi bụi trong môi trường sản xuất làm hỏng lớp cách điện.

c/ Biện pháp đề phòng: - Dùng dây đúng tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với môi trường tiêu thụ ( nóng ẩm, chất ăn mòn ). - Các mối nối phải so le và băng cách điện phải đảm bảo chắc chắn kết dính tốt không bị bong ra. - Dây bắt vào động cơ. cầu dao công tắc … phải chặt gọn. - Dây đàn đi qua phía ngoài nhà, các dây cách nhau ít nhất 0,25m chắc chắn đề phòng do gió thổi chạm vào nhau. - Không luồn qua mái tole hay thả dây trên mái tole. - Tỉa cây đề phòng cây đổ, cành gãy làm chập dây. - Các nơi sản xuất dùng dụng cụ điện di động, dây phải chịu được bào mòn cơ học; vị trí sử dụng ít ngườii qua lại, tránh dẫm đạp lên nhau. - Những cơ quan, xí nghiệp có các bó cáp điện mắc phía ngoài phải chống nóng, chống mưa và kiểm tra vỏ bọc thường xuyên. 2.3 Cháy chấn lưu đèn neon: Rất nhiều vụ cháy chấn lưu đèn Neon dẫn đến cháy nhà, công trình. a/ Nguyên nhân cháy: Là do sự cố ở các cuộn dây trong chấn lưu, quá trình ngậm điện làm nóng chảy nhựa Bitum và sau đó phát sinh cháy nhựa dẫn đến chập mạch dây dẫn từ nguồn vào… các đèn Neon khi dùng có hiện tượng cháy nhấp nháy và có tiếng kêu thì phải kiểm tra lại chấn lưu và thay thế ngay. b/ Biện pháp đề phòng cháy khi dùng đèn neon: - Không mắc đèn trực tiếp vào trần hay tường nhà bằng ván ép hay có bọc lót các chất dễ cháy. - Các kho có hơi dễ cháy ( xăng, dầu, cồn ) các cơ sở may, dệt có nhiều bụi nếu dùng đèn Neon phải lắp chấn lưu ở ngoài. - Cụm đèn ( 2 – 4 cái ) hay 1 cái khi lắp phải có giá treo chắc chắn cách trần 0,5m 2.4 Cháy do tia lửa điện, cháy do hồ quang điện, sự truyền nhiệt của vật tiêu thụ điện: 2.4.1 Cháy do tia lửa điện: a/ Khái niệm và nguyên nhân: - Tia lửa điện xuất hiện khi hai bề mặt dây dẫn, thanh dẫn chạm vào nhau hoặc các mối nối bị lỏng. Ví dụ: Đóng ngắt cầu dao hoặc các mối nối bị hỏng, phích cắm điện. - Tia lửa có nhiệt độ rất lớn từ 1500 độ C – 2000 độ C do đó khi có các chất dễ cháy ở gần như bụi lông, vài sợi, hơi ga, hơi xăng thì sẽ bị cháy và cháy lan. b/ Cách đề phòng: - Đối với môi trường hỗn hợp nổ của bụi xăng dầu với không khí thì các thiết bị đóng ngắt điện chiếu sáng phải chống nổ, không được phép nối dây trong môi trường gây nổ. - Việc nối dây, kẹp, hộp dấu công tắc, cầu dao, cầu chì phải đảm bảo chặt và chắc chắn, không được khoảng hở trong bảng thân các mặt tiếp xúc. 2.4.2 Cháy do hồ quang điện: a/ Khái Niệm: - Hồ quang điện là sự phóng điện trong không khí tạo nên tia lửa hồ quang đạt nhiệt độ 600 độ C vì vật để cắt kim loại người ta thường dùng que hàn điện cho phóng hồ quang. - Khi hàn các phôi sắt bắn ra ngoài và nhiệt độ vẫn đạt 1000 độ C do đó dễ đốt cháy các vật xung quanh. b/ Cách đề phòng cháy, do hồ quang điện gây ra: - Tạo khoảng cách giữa nơi hàn và vật ccháy xung quanh ít nhất là 5 mét, các nơi có hơi xăng dầu khoảng cách là 20 mét, đối với những vật khó di chuyển thì có biện pháp che cchắn chống hơi hàn rơi vào. - Đối với các ống dẫn xăng dầu, bồn chứa xăng dầu khi muốn hàn phải súc rửa và đo nồng độ hơi đạt mức cho phép mới được hàn. - Dây dẫn điện đến máy hàn và từ máy hàn đến vật hàn phải đảm bảo chịu tải và phải đi qua môi trường không có nguy hiểm về cháy nổ. 2.4.3 Cháy do sự truyền nhiệt của dụng cụ điện:
a/ Khái niệm: Dụng cụ tiêu thụ điện được đề cập đến ở đây là các dụng cụ có diện tích bề mặt nóng tỏa nhiệt như : lò sưởng, bàn ủi, bếp điện, bóng đèn tròn, đèn Neon. b/ Nguyên nhân gây cháy: - Nhiệt độ bóng đèn tròn 75w có thể đạt 2000C nên khi thắp bóng đèn tròn phải để xa các vật dễ cháy và loại trừ ra ngoài các hỗn hợp nổ. - Dùng giấy bao bọc bóng đèn ( che ánh sáng thay đèn ngủ ).
- Đun bếp điện để nguên, khi cạn nước nồi nhôm nóng chảy gây chập mạch và gây cháy. - Dùng lò sấy bằng dây lò so trần, sau khi sấy khô chất cháy bốc cháy . - Ủi quần áo bỏ quyên nhất là khi cắm phích vào nhưng lại cúp điện khi có điện trở lại gây cháy. c/ Biện pháp đề phòng: - Không dùng bóng đèn tròn nhất là các dụng cụ điện có công suất lớn để sấy quần áo, khoảng cách giữa bóng đèn và các vật dễ cháy tối thiểu là 5 mét.

- Dùng bếp điện phải có người trông coi, dây dẫn phải tốt phù hợp với công suất tiêu thụ. - Không để bàn ủi lên vật dễ cháy.
2.4.4 Cháy động cơ điện: a/ Nguyên nhân: - Máy bi kẹt quay chậm do không tra dầu mỡ hoặc để bạc đạn hoặc bị vật cản. - Máy ngậm điện nhưng không quay, trường hợp này rất nguy hiểm. c/ Biện pháp đề phòng: - Thường xuyên kiểm tra và bôi dầu mỡ vào các khớp chuyển động cơ, phải có vỏ bảo vệ cách quay đề phòng có vật cản. Trường hợp máy bị kẹt thì phải cắt điện ngay và sửa chữa kịp thời. - Dùng điện thế đúng với điện thế ghi trên máy.

Ngọc Duy ST


094 6666 348 - 08 3868 8875